Có lần nhà văn Nguyễn Văn Bổng (1921-2001) kể cho tôi nghe về giây phút xúc động trào dâng nhìn thấy phố xá, nhà cửa ở Sài Gòn… bằng một con mắt khác, một cảm xúc khác, một tư thế khác - tư thế của người chiến thắng. Khác, bởi vì ông đã từng vào hoạt động ở nội thành Sài Gòn từ 1966 đến 1968, nhưng rất ít khi được nhìn thấy phố xá ban ngày, chủ yếu là nằm hầm bí mật hoặc ở trong nhà, ban đêm mới đi ra phố.

Sau Con trâu - tiểu thuyết đầu tay  và cũng là tiểu thuyết đầu tiên của văn học Liên khu Năm kháng chiến-nhà văn Nguyễn Văn Bổng đã viết nhiều tác phẩm về Sài Gòn và đô thị miền Nam, nổi bật là Sài Gòn 67. Sau Con trâu - tiểu thuyết đầu tay và cũng là tiểu thuyết đầu tiên của văn học Liên khu Năm kháng chiến-nhà văn Nguyễn Văn Bổng đã viết nhiều tác phẩm về Sài Gòn và đô thị miền Nam, nổi bật là Sài Gòn 67.
Sau Con trâu - tiểu thuyết đầu tay và cũng là tiểu thuyết đầu tiên của văn học Liên khu Năm kháng chiến-nhà văn Nguyễn Văn Bổng đã viết nhiều tác phẩm về Sài Gòn và đô thị miền Nam, nổi bật là Sài Gòn 67.

Trong Các tác gia văn chương Việt Nam, Trần Mạnh Thường có viết về Nguyễn Văn Bổng rằng: “Cuối năm 1974 đầu 1975, ông trở lại miền Nam, tham gia chiến dịch Buôn Ma Thuột, dự chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử và theo gót chân anh bộ đội cụ Hồ vào Sài Gòn giữa trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975” (Nxb Văn hóa – Thông tin 2008, tập 2, tr.1848).

Chính xác hơn, trong bài Nhà văn Nguyễn Văn Bổng, Đặng Minh Phương cũng khẳng định rằng, “ông là nhà văn đầu tiên có mặt ở dinh Độc Lập đúng vào 12 giờ 30 phút ngày 30-4-1975”.

Trong hồi ký Từ vùng đất quê hương, ông cũng kể rằng: “Cuối năm 1966, tôi vào Sài Gòn, được giới thiệu với Vũ Hạnh. Thì ra đó là Nguyễn Đức Dũng, ở Thăng Bình, tôi đã biết từ hồi kháng chiến chống Pháp. Sang năm 1954, anh vào Sài Gòn, nổi lên là một cây bút truyện ngắn và phê bình. Anh đang là Tổng thư ký Lực lượng bảo vệ văn hóa dân tộc ở Sài Gòn, và là cây bút chính của tờ Tin văn.

Tôi cộng tác với anh làm tờ báo này và hoạt động cho Lực lượng bảo vệ văn hóa dân tộc/ Vào đợt hai cuộc tấn công Tết Mậu Thân, anh Lưu Nghi chia tay với nhau hồi 1953 ở Quảng Nam, đã đón tôi về ở trong nhà anh giữa Sài Gòn. Tôi biên tập, anh đánh máy để đưa các anh khác quay rô-nê-ô tạp chí Người Việt, lấy danh nghĩa là Liên minh các lực lượng Dân chủ và Hòa bình để bí mật phát hành tờ tạp chí” (Về một vùng văn học, tr.19). Sài Gòn và các đô thị miền Nam đã đi vào trang viết của Nguyễn Văn Bổng như một vệt sáng lấp lánh, chiếm gần nửa sự nghiệp văn chương của ông.

Nguyễn Văn Bổng đã cắm sâu ngòi bút vào đô thành Sài Gòn và các đô thị vùng tạm chiếm miền Nam với Sài Gòn ta đó (1969), Áo trắng (1973), Sài Gòn 67 (1972-1982), Đường đất nước (1976), Ghi chép về Tây Nguyên (1978), Tiểu thuyết cuộc đời (1986-1991), Tiếng nổ Caravel (1999). Ông đã có những nhan đề lặp đi lặp lại như một điệp khúc Sài Gòn ta đó, Sài Gòn 67, Áo trắng Sài Gòn (nhan đề tiểu thuyết Áo trắng khi được dịch ra tiếng Hàn vào những năm bảy mươi). Ngoài quê hương xứ Quảng, ông còn có một miền quê sáng tác thứ hai, không chỉ là nông thôn Nam Bộ, mà còn tập trung vào các đô thị, trong đó chủ yếu là đô thành Sài Gòn.

Bút ký của Nguyễn Văn Bổng bao giờ cũng đầy ăm ắp các chi tiết, các sự kiện. Nó gần với ký sự hơn là bút ký, bởi lẽ các sự kiện luôn được làm đầy lên, lấn át những cảm xúc trữ tình đằm thắm và lãng mạn. Phần bút ký trong Sài Gòn ta đó cũng không phải là ngoại lệ.

Ngay cả các truyện ngắn ở đây cũng thấm đẫm chất liệu thực tế, ít nhiều có pha chút “kiêu hùng” của đời sống chiến tranh, chưa có sự dụng công nghệ thuật cần thiết, rất gần gũi với những ký sự hoặc truyện ký, hơn là truyện ngắn.

Vừa là người trực tiếp tham gia, vừa là chứng nhân của cuộc tổng tấn công và nổi dậy xuân Mậu Thân năm 1968 vào đô thành Sài Gòn, tận mắt nhìn thấy sự hy sinh anh dũng của đồng bào đồng chí, cùng với sự rệu rã nhưng đầy ngoan cố và độc ác của kẻ thù, là chất liệu mỹ cảm đầy tự hào, để ông lần tìm ra đường kim mũi chỉ dệt nên bức phù điêu hoành tráng giàu chất sử thi Sài Gòn ta đó.

Dù chỉ bí mật vào hoạt động ở nội thành Sài Gòn mấy năm, nhưng Nguyễn Văn Bổng đã có những trang viết không thua kém gì những nhà văn đang sống và viết công khai hợp pháp ở nội thành. Áo trắng phản ánh và ca ngợi phong trào đấu tranh của sinh viên học sinh ở đô thị Sài Gòn.

Những nhân vật trong truyện, như Phượng, Thanh, Hoàng khi bị sa vào tay giặc vẫn giữ vững được chí khí chiến đấu, hiên ngang vượt qua mọi cám dỗ, thử thách và những đòn tra tấn dã man của kẻ thù, như chính câu thơ áo trắng mà Phượng đã viết ra trong nhà tù, sau những màn tra tấn dã man của kẻ thù: “Nhưng nay gặp cảnh đời chua xót/ Áo này nguyện trắng mãi không thôi”.

Trong số nhiều tác phẩm của ông đã được dịch và công bố ở nhiều nước trên thế giới như Liên Xô (cũ), Trung Quốc, Đức, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc… trong đó có Áo trắng: “Nhiều bạn đọc hết sức vui mừng khi biết tác phẩm Áo trắng của ông được dịch và in ở Hàn Quốc với cái tên Áo trắng Sài Gòn.

Sau khi Áo trắng Sài Gòn bị nhà cầm quyền cấm, nó đã được nhanh chóng sao chụp thành hàng vạn bản, phổ biến rộng khắp trong các trường đại học ở Hàn Quốc, trong sinh viên và thanh niên, như là một vũ khí, một tấm gương” (Đặng Minh Phương, sđd, tr.288).

Tiểu thuyết Sài Gòn 67 được tác giả thai nghén, bắt đầu viết những dòng đầu từ năm 1972, nhưng phải đến mười năm sau, năm 1982 mới hoàn thành và cho ra mắt bạn đọc. Nguyễn Văn Bổng vẫn trước sau trung thành với lối viết của mình và với món nợ về đề tài chiến tranh chưa bao giờ trả đủ, nhất là với mảnh đất Sài Gòn, nơi chịu nhiều hy sinh mất mát để cưu mang mạng sống của chính bản thân ông, và lớn hơn, sự sống của cách mạng.

Sài Gòn 67 chỉ gói gọn trong thời gian chưa đầy một năm, các sự kiện xảy ra dọc hai bên bờ sông Sài Gòn, nhưng có khả năng khái quát cao, không chỉ thu hút một lớp người, một số phận, một chân dung nhân vật mà còn có sức chi phối đến nhiều lớp người, nhiều dạng nhân vật, từ thượng lưu trí thức đến tiểu thị dân, nông dân, cách mạng… trong thời điểm 1967, năm bản lề của cuộc kháng chiến, năm sục sôi và chuẩn bị cho cuộc tấn công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968.

Nhà văn Bùi Hiển cho rằng, Nguyễn Văn Bổng là người xứng danh nhà văn chiến sĩ và tiểu thuyết Sài Gòn 67 được “viết mười năm, một đóng góp xuất sắc vào gia tài văn học. Bằng lời văn báo chí nhanh gọn chính xác, anh đã dựng lên hình ảnh những nhân vật sống động nhiều màu sắc và tâm tư nhiều cá tính độc đáo.

Đây là lịch sử được tiểu thuyết hóa, giúp cho người đọc hình dung được phần nào đời sống riêng tư giữa các thành viên trong một gia đình với những sắc thái riêng biệt. Một mối tình cảm nam nữ trong sáng vô tư, được tô đậm thêm khi nhân vật nữ khám phá thêm những nét lý tưởng ở người yêu giữa khung cảnh chiến đấu và tàn phá ác liệt” (Báo Văn nghệ 21.7.2001).

Dù viết về đâu, đề tài, vấn đề gì, Nguyễn Văn Bổng cũng nhìn  bằng con mắt và nói bằng giọng điệu tâm hồn của con người xứ Quảng. Cái chất/tâm thức Quảng thể hiện ở lý tưởng thẩm mỹ sáng rõ và quan niệm nghệ thuật rạch ròi, đồng thời sẵn sàng chiến đấu đến cùng để bảo vệ lý tưởng đã đề ra và theo đuổi.

Chính điều đó tạo nên nhân cách và cũng là văn cách/phong cách của ông, xuất phát từ phẩm chất của một con người xứ Quảng đậm đặc, cho dù sống ở đâu, trong hoàn cảnh nào, ngay cả lúc cận kề cái chết trong những năm tháng lăn lộn ở nội thành Sài Gòn, cũng không thể nào pha loãng được, mà dường như càng sống, càng gian nguy, khốc liệt, càng làm đầy lên, đậm thêm như gừng cay muối mặn của quê nhà. Chính vì thế, với tư cách là công dân, ông được nhà nước ghi nhận và tặng thưởng nhiều huân chương cao quý, với tư cách là nhà văn, ông được Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

Phạm Phú Phong

theo baodanang.vn (ngày 30/4/2018)